Vì Sao Đường Ống Xăng Dầu Trường Sơn Vẫn Vững Vàng Trước Bom B52 Mỹ?

5000 km – Bạn liên tưởng đến gì? Khoảng cách từ Việt Nam đến Úc? Chiều dài của sông Hoàng Hà, một trong những con sông dài nhất thế giới? Hay độ dài gần tương đương bán kính Trái Đất? Tất cả đều đúng, nhưng bạn không cần phải nghĩ đến những điều xa xôi. Bởi vì ngay tại Việt Nam, có một công trình dài 5000 km. Đó chính là đường ống dẫn xăng dầu xuyên Trường Sơn.

Vì Sao Đường Ống Xăng Dầu Trường Sơn Vẫn Vững Vàng Trước Bom B52 Mỹ?
By CD Media
25/11/2024

 

 

Tuyến đường ống dẫn xăng dầu dài 5000 km, kéo dài từ biên giới phía Bắc Việt Nam đến miền Nam, được xây dựng trong suốt 7 năm Chiến tranh Việt Nam (1968 – 1975). Vào thời điểm đó, nó là hệ thống đường ống dài nhất thế giới. Thậm chí, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã thừa nhận rằng ông không ngờ Việt Nam lại có thể xây dựng một công trình lớn như vậy. Nhưng câu hỏi lớn là: Tại sao một tuyến đường ống dài đến vậy lại được xây dựng trong bối cảnh chiến tranh khốc liệt?

 

Vì sao đường ống dẫn xăng dầu cần thiết?

 

Quay lại năm 1954, sau thất bại tại Điện Biên Phủ, Pháp ký kết hiệp định Giơ-ne-vơ, chia Việt Nam thành hai miền. Nhưng cả Pháp và Mỹ đều không hài lòng với điều này. Mỹ lo ngại rằng nếu tổng tuyển cử được tổ chức, Hồ Chí Minh sẽ giành chiến thắng. Vì vậy, Mỹ đã đứng sau lưng Ngô Đình Diệm để thiết lập chính phủ chống cộng tại miền Nam, đồng thời bác bỏ cuộc bầu cử thống nhất.

 

Sự can thiệp của Mỹ đã tạo ra một cuộc khủng hoảng chính trị, dẫn đến sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (Việt Cộng), với sự hỗ trợ từ miền Bắc. Khi chính quyền Diệm bất ổn, Mỹ quyết định trực tiếp can thiệp vào cuộc chiến, đánh dấu bước ngoặt trong cuộc chiến tranh Việt Nam.

 

Cuộc chiến này diễn ra giữa hai phe: một bên là quân đội VNDCCH và quân Giải phóng, được sự hỗ trợ từ Liên Xô và Trung Quốc; bên còn lại là Mỹ và chính quyền Sài Gòn, với sự giúp đỡ từ các nước đồng minh phương Tây. Vào năm 1965, Mỹ quyết định triển khai quân đội trực tiếp tham chiến tại miền Nam Việt Nam và mở rộng hoạt động không quân, hải quân. Trong khi đó, chính quyền VNDCCH phải đối mặt với hai nhiệm vụ quan trọng: phục hồi nền kinh tế miền Bắc và đấu tranh giành lại miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước.

 

Với mục tiêu rõ ràng, chính quyền miền Bắc nhanh chóng lên kế hoạch tiến công quy mô lớn vào miền Nam, trong đó chiến lược chi viện cho quân Giải phóng tại miền Nam là ưu tiên hàng đầu. Để thực hiện điều này, quân đội VNDCCH đã tái xây dựng đường mòn Hồ Chí Minh thành tuyến tiếp tế quan trọng, với ba mặt hàng chủ yếu: lương thực, vũ khí, và xăng dầu.

 

Xăng dầu đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến tranh. Máy bay, xe tăng, và các phương tiện vận chuyển đều cần xăng dầu để hoạt động. Thiếu tướng Hoàng Kiền, nguyên tư lệnh công binh, đã nhấn mạnh:

Trong các loại hàng tiếp tế đưa vào chiến trường, xăng dầu là mặt hàng khó khăn nhất!

 

Trong giai đoạn đầu, xăng dầu được vận chuyển chủ yếu bằng xe cơ giới. Tuy nhiên, phương pháp này nhanh chóng bộc lộ nhiều yếu điểm. Một trong những vấn đề lớn là, khi đi từ Bắc vào Nam, xe cơ giới đã tiêu thụ gần 1/3 số xăng dầu mang theo. Hơn nữa, để tiếp tục vận chuyển, những chiếc xe này phải quay lại miền Bắc để nạp xăng, gây tốn thời gian và tài nguyên. Bên cạnh đó, phương pháp này không đảm bảo tính bí mật. Những xe chở xăng dầu trở thành mục tiêu chính cho không quân Mỹ. Hầu hết chúng không thể vượt qua các trọng điểm mà không bị tiêu diệt. Dần dần, nguồn xăng dầu chi viện bị cạn kiệt.

 

 

Thời gian đầu, xăng dầu được vận chuyển bằng xe cơ giới, nhưng tiêu tốn nhiều nhiên liệu, mất thời gian quay lại nạp xăng và dễ bị lộ.

 

Trước tình hình đó, nhiều phương án được đưa ra, nhưng đều không hiệu quả lâu dài. Phương án đầu tiên là đổ xăng vào túi ni lông, giấu trong ba lô và gùi qua các trọng điểm. Tuy nhiên, cách này không mang lại hiệu quả về số lượng và chất lượng, vì mỗi binh lính chỉ có thể gùi được khoảng 1 lít xăng. Thậm chí, nhiều người đã thiệt mạng vì ngộ độc chì trong xăng. Phương án thứ hai là vác các can xăng, lợi dụng dòng chảy của sông, suối để thả trôi các thùng xăng. Tuy nhiên, cách này cũng gặp khó khăn lớn. Việc vận chuyển mất nhiều thời gian và lượng xăng dầu chỉ đủ cho vài ngày. Hơn nữa, quân đội Mỹ dễ dàng phát hiện và ngăn chặn.

 

 

Các chiến sĩ của Trung đoàn 70 – đơn vị đầu tiên của Bộ đội Trường Sơn đang thồ hàng trên tuyến Tây Trường Sơn tháng 9/1961.

 

Thiếu tướng Hoàng Kiền, nguyên tư lệnh công binh, kể lại:

Có một đêm, chúng tôi đã vận chuyển được 29 thùng xăng, nhưng mất đến 30 mạng người.

Điều này cho thấy rõ ràng sự nguy hiểm và tốn kém của phương pháp vận chuyển này. Khi việc tiếp tế xăng dầu cho tuyến vận tải cơ giới rơi vào bế tắc, nhu cầu tiếp viện càng trở nên cấp bách. Vào tháng 4 năm 1968, Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên đã gửi điện báo về Bộ chỉ huy VNDCCH cảnh báo rằng, nếu không có đủ xăng và lương thực, hàng vạn bộ đội sẽ bị đói.

 

Mỹ nhận thức rõ ràng về kế hoạch chi viện từ miền Bắc cho quân Giải phóng ở miền Nam và quyết tâm cắt đứt con đường này. Bằng chứng là từ năm 1965 đến 1970, Mỹ đã thả hơn 1,4 triệu tấn bom xuống Việt Nam, tập trung vào các khu vực chiến lược như miền Bắc, biên giới Lào, Campuchia và đặc biệt là đường mòn Hồ Chí Minh. Đứng trước sự khốc liệt của chiến tranh, Quân đội VNDCCH nhận ra rằng phương thức vận chuyển cũ không thể tiếp tục. Đã đến lúc cần một giải pháp mới, an toàn và bí mật hơn.

 

Hành trình xây dựng kỳ tích

 

Trong một chuyến công tác tại Liên Xô, Đại tướng Võ Nguyên Giáp – chỉ huy quân đội VNDCCH – đã chứng kiến phương thức vận chuyển xăng dầu của Liên Xô qua đường ống dã chiến. Đường ống này được làm bằng thép, đường kính 100mm, có khớp nối hai đầu và tổng chiều dài lên tới 100km, được nối từ các đoạn ống nhỏ dài 6m. Trong cuộc họp khẩn cấp với Ban chỉ huy quân sự VNDCCH về vấn đề vận chuyển xăng dầu, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đề xuất áp dụng phương thức này. Tuy nhiên, đề nghị của ông đã nhận được sự im lặng từ mọi người trong cuộc họp. Lý do là ai cũng nghi ngờ tính khả thi của kế hoạch, và để hiểu được điều này, ta cần so sánh tình hình giữa Liên Xô và Việt Nam lúc bấy giờ.

 

Thứ nhất, Liên Xô sở hữu hệ thống phòng không và pháo binh mạnh mẽ, điều mà Việt Nam không có. Liệu đường ống có thể chống chịu được sự tấn công mạnh mẽ từ không quân Mỹ? Thứ hai, các đường ống dã chiến của Liên Xô chỉ có chiều dài vài chục km, trong khi việc xây dựng một hệ thống dài hàng nghìn km là điều chưa từng có tiền lệ. Thứ ba, ở Liên Xô, đường ống chỉ phục vụ chiến dịch ngắn hạn, từ 7-10 ngày, nhưng Việt Nam cần một giải pháp lâu dài cho chiến tranh. Hơn nữa, đường ống sẽ phải đi qua địa hình rừng núi phức tạp, liệu nó có thể đảm bảo an toàn và bí mật trong suốt chiến tranh?

 

 

Song hành với đường Hồ Chí Minh vượt Trường Sơn, đường ống xăng dầu vào Nam là kỳ tích của cả dân tộc góp phần "đánh Mỹ và thắng Mỹ".

 

Mặc dù các phương án đều có rủi ro, nhưng nếu không thử thì bài toán sẽ không có lời giải. Chính vì vậy, sau nhiều cuộc bàn bạc, kế hoạch xây dựng tuyến ống dẫn xăng dầu Trường Sơn đã được giao cho Tổng cục Hậu Cần. Để thực hiện, các nước XHCN đã đồng ý viện trợ cho VNDCCH. Liên Xô cung cấp 8 bộ ống và nhiều máy bơm cao áp, Trung Quốc viện trợ 45 bộ ống, Tiệp Khắc cung cấp 100 xe chở ống chuyên dụng, và nhiều quốc gia khác cũng chi viện thêm 45 bộ ống dẫn dầu Ngày 12/4/1968, đơn vị xây dựng tuyến ống mang mật danh “Công trường 18” được thành lập, chính thức bắt đầu hành trình vận chuyển xăng dầu qua một hệ thống đường ống khổng lồ. Nghệ An là nơi đầu tiên xây dựng tuyến ống dài 42 km, có mật danh X42, nối từ Nam Thanh (Nghệ An) đến Nga Lộc (Hà Tĩnh).

 

Cuối năm 1968, tuyến ống tiếp tục được mở rộng theo hai hướng: một hướng ra Bắc để tạo nguồn cung xăng dầu ổn định cho miền Bắc, và một hướng vào Nam để bảo đảm cung cấp xăng dầu cho chiến trường. Tuyến ống ra Bắc nối từ kho xăng dầu lớn nhất miền Bắc tại Nhân Vực (Hà Nội) đến Nghệ An. Tuyến ống vào Nam chia thành hai nhánh: Tây và Đông Trường Sơn. Hướng Tây Trường Sơn chạy qua Hà Tĩnh, qua đèo Mụ Giạ (Quảng Bình), qua biên giới sang Lào và tiếp tục xuống hạ Lào. Hướng Đông Trường Sơn đi qua Quảng Trị, Huế, Kon Tum, vượt đèo Đá Bàn (Quảng Ngãi). Hai tuyến này hội tụ tại Play Khốc (Kon Tum), ngã ba biên giới của Việt Nam, Lào và Campuchia.

 

Đến mùa xuân 1972, Mỹ bắt đầu phong tỏa các cảng biển miền Bắc như Hải Phòng và Cẩm Phả, cắt đứt nguồn cung xăng dầu. Tuy nhiên, nhờ sự hỗ trợ từ Trung Quốc, xăng dầu vẫn được đưa qua biên giới phía Bắc. Đường ống tiếp tục được mở rộng, nối từ biên giới Bắc vào Hà Nội. Đầu năm 1973, để chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công, đường ống phía Nam tiếp tục được xây dựng dọc biên giới Campuchia vào Bù Gia Mập (Bình Phước). Đến năm 1975, tuyến ống cuối cùng dẫn xăng dầu vào chiến trường miền Nam hoàn thành, với tổng chiều dài 5000 km.

 

Thành tựu của công trình huyền thoại

 

Trong đó, tuyến ống Tây và Đông Trường Sơn là những đoạn khó khăn và phức tạp nhất, dài hơn 700 km, đi qua địa hình rừng già, đồi núi, và nhiều sông lớn. Công tác xây dựng phải đối mặt với vô vàn khó khăn, đặc biệt là sự phá hủy của không quân Mỹ. Một ví dụ điển hình là cung đường qua đèo Mụ Giạ, nơi không quân Mỹ ném bom liên tục suốt ba tháng, khiến các công nhân không thể đưa xăng qua đèo.

 

Bắc Việt đã sử dụng chiến thuật nghi binh bằng cách xây dựng các tuyến ống khác xa khu vực bị Mỹ tấn công, đồng thời vẫn khắc phục các tuyến ống cũ để đánh lừa Mỹ. Nhờ vậy, hệ thống đường ống tiếp tục hoạt động. Một trong những cuộc đối đầu quyết liệt nhất giữa quân đội Bắc Việt và không quân Mỹ diễn ra khi tuyến ống vượt qua đỉnh 911, đỉnh cao nhất trong khu vực Tây Trường Sơn. Mỹ không nghĩ rằng có thể đưa đường ống qua đỉnh núi cao gần 1000m này. Tuy nhiên, quân đội Bắc Việt đã chấp nhận mạo hiểm, quyết định đưa đường ống lên đỉnh 911, dù phải vác hơn 7000 bộ ống và hàng chục tấn thiết bị máy móc qua những đoạn núi cheo leo. Thiếu tá Nguyễn Phúc Môn, kỹ sư thủy lực thi công đường ống, chia sẻ:

Mỗi ống nặng 38-41 kg, phải hai người mới đưa lên được. Đưa được 1 cây số tương ứng 176 ống đã là kỳ công.

 

Ngày 22-12-1969, xăng đã vượt qua đỉnh 911 và đến Bản Cọ (Quảng Trị), đánh dấu một bước tiến lớn trong việc duy trì nguồn cung xăng dầu cho chiến trường miền Nam. Sau 7 năm xây dựng, hệ thống đường ống dẫn xăng dầu dài gần 5000 km, nối từ biên giới phía Bắc đến miền Nam Việt Nam, đã hoàn thành. Nhiều đoạn của đường ống có tới bốn ống chạy song song, cho phép vận chuyển đồng thời nhiều loại xăng dầu khác nhau. Vào đúng 21h30 phút ngày 14-3-1975, xăng đã đến miền Nam Việt Nam. Từ đây, tiểu đoàn xe vận tải tiếp nhận và vận chuyển xăng vào sâu trong chiến trường, cung cấp cho các quân đoàn Giải phóng.

 

Sơ đồ toàn tuyến đường ống xăng dầu Trường Sơn.

 

Toàn bộ hệ thống bao gồm 114 trạm bơm đẩy, với khả năng bơm từ 600 đến 800m3 xăng dầu mỗi ngày đêm, cùng hơn 100 kho xăng dầu, mỗi kho có sức chứa hơn 300.000 m3. Trong suốt 7 năm, 5,5 triệu m3 xăng dầu đã được chuyển vào chiến trường miền Nam, với 600 tấn xăng dầu được cung cấp mỗi ngày trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Tổng cộng, 77.000 tấn xăng và 18.000 tấn dầu diezen đã được chi viện trong 55 ngày đêm của chiến dịch Hồ Chí Minh.

 

Hệ thống này thực sự là một kỳ tích, vì vào thời điểm đó, chưa có quốc gia nào trên thế giới xây dựng một hệ thống đường ống dài và cao như vậy. Chính vì vậy, con đường này được mệnh danh là huyền thoại. Như tướng không quân Mỹ Harry Aderholt nhận định:

Đường ống xăng dầu của Việt Nam là huyền thoại có thật!

 

 

Bằng chính tinh thần chiến đấu anh dũng, đường ống được hoàn thành và làm tốt nhiệm vụ của mình phục vụ cho chiến trường miền Nam.

 

Trong cuốn "Đường mòn Hồ Chí Minh - con đường dẫn tới tự do," tác giả Virginia Louise Morris viết: "Người Việt đã vượt lên người Mỹ về tầm nhìn xa, đã xây dựng cơ sở hạ tầng của một hệ thống kho xăng dầu và một hệ thống đường ống dài 5000 km, chạy từ biên giới Việt-Trung, dọc Trường Sơn vào Đông Nam Bộ... Đây là dự án khủng khiếp."

 

Với sự quyết tâm và trí tuệ kỹ thuật, quân đội Bắc Việt không chỉ đối mặt với sự tấn công của không quân Mỹ mà còn tạo ra một giải pháp vượt khó. Cùng với đường mòn Hồ Chí Minh trên bộ, trên biển và trên không, hệ thống đường ống đã khiến Mỹ không thể cắt đứt kế hoạch chi viện của Bắc Việt cho quân Giải phóng. Kết quả là chiến tranh kết thúc, như lời Tổng thống Mỹ Gerald Ford:

War’s Vietnam is over!